Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

Vietnam’s hub for climate-smart agriculture and sustainable development

01 Oct, 2025 517

NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VÀ NGHỊCH LÝ: CHÍNH SÁCH NHIỀU, KỸ THUẬT ÍT

Đó là phát hiện nổi bật của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp qua khảo sát 275 chương trình, dự án về nông nghiệp sinh thái và các giải pháp tự nhiên.Cuối tháng 8/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức hội thảo tham vấn kỹ thuật về “chuyển đổi nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp dựa vào các giải pháp tự nhiên” nhằm đóng góp cho quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm bền vững ở Việt Nam. Sự kiện diễn ra trực tiếp – trực tuyến, thu hút khoảng 100 đại biểu từ cơ quan quản lý, viện trường, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Bài viết do phóng viên Quỳnh Chi thực hiện, đăng ngày 27/08/2025.Phó Viện trưởng NIAPP Bùi Hải Nam chia sẻ về kết quả nghiên cứu rà soát các dự án nông nghiệp sinh thái, giải pháp dựa vào tự nhiên ở Việt Nam.Lần đầu rà soát diện rộng các sáng kiến nông nghiệp sinh tháiNIAPP thực hiện nghiên cứu theo hai tầng—rà soát có hệ thống và khảo sát cấu trúc—trên 275 dự án nông nghiệp sinh thái từ 2010 đến nay. Kết quả cho thấy sau cam kết Net Zero tại COP26 (2021), số dự án tăng nhanh nhưng phân bố không đồng đều: ĐBSCL và ĐBSH dày đặc nhất, còn Đông Nam Bộ ít nhất. Phát hiện then chốt là nghịch lý “chính sách dày – kỹ thuật mỏng” trong chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm dựa trên nông nghiệp sinh thái và các giải pháp dựa vào tự nhiên (NbS). Theo ông Bùi Hải Nam (Phó Viện trưởng NIAPP), các dự án phụ thuộc mạnh vào ODA song/đa phương trong khi ngân sách nhà nước và vốn tư nhân còn hạn chế; phần lớn can thiệp nghiêng về cơ chế, chính sách, thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể cho cấp địa phương, dẫn đến cách làm từ trên xuống trong khi nền tảng kỹ thuật tại nông trại chưa được đầu tư tương xứng. NIAPP khuyến nghị thể chế hóa đối tác công–tư–cộng đồng (PPP+C), coi cộng đồng là đối tác bình đẳng để thúc đẩy hệ thống khuyến nông chuyên sâu, tùy chỉnh theo nhu cầu nông dân và điều kiện sinh thái địa phương, đồng thời nâng năng lực khuyến nông cộng đồng.Sự cần thiết nhân rộng các giải pháp dựa vào tự nhiên, sinh tháiNông nghiệp giữ vai trò then chốt ở Việt Nam: bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội, tạo sinh kế cho hơn 60% dân số và đóng góp khoảng 12% GDP (2024). Tuy nhiên, ngành đang chịu sức ép từ quy mô nông hộ nhỏ chiếm đa số, suy giảm tài nguyên, biến đổi khí hậu, cùng biến động thị trường và dịch chuyển thị hiếu toàn cầu. Tại hội thảo, ông Vũ Thanh Liêm (Bộ NN-MT) nhấn mạnh nông nghiệp sinh thái là giải pháp trọng yếu: tối ưu quan hệ giữa sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học, tăng khả năng phục hồi hệ sinh thái, giảm phát thải, và cần công cụ vận hành cụ thể cùng lộ trình khả thi để triển khai. Đại diện UNDP, ông Vũ Thái Trường cho rằng các mô hình hiện còn phân tán, thiếu cơ chế và tài chính đủ mạnh để nhân rộng; nghiên cứu rà soát của NIAPP sẽ chỉ ra rào cản và động lực chuyển đổi, đóng góp trực tiếp cho Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm.Ông Vũ Thái Trường, Trưởng Ban Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường, UNDP tại Việt Nam, phát biểu ở hội thảo.Cần đặt nông dân ở trung tâm của chuyển đổiICRAF, với kinh nghiệm chuyển giao kỹ thuật cho nông dân, giới thiệu các mô hình ở Ấn Độ, Philippines, Indonesia và Việt Nam. Ông Nguyễn Quang Tân (Điều phối viên quốc gia ICRAF) nêu khái niệm “hệ sinh thái chuỗi giá trị” và việc áp dụng tiếp cận cảnh quan nông nghiệp sinh thái, nông–lâm kết hợp. Trọng tâm can thiệp là giảm phân bón hóa học, thuốc BVTV và quản lý chu trình dinh dưỡng một cách bài bản để nâng sức chống chịu và tính bền vững của hệ thống.Từ thực tế trang trại Mục Đồng, nhà sáng lập kiêm CEO Nguyễn Thị Thịnh chia sẻ động lực lớn nhất là tạo niềm tin để nông dân dám theo đuổi nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn. Bắt đầu với 13 con bò mẹ, chị tự xây dựng nguyên tắc “5 không”, qua đó đưa Mục Đồng trở thành một trong những trang trại đầu tiên ở Việt Nam đạt chứng nhận hữu cơ của Nhật Bản (2021). Theo chị, nông nghiệp tuần hoàn vốn quen thuộc với nông thôn Việt Nam, nhưng việc lạm dụng hóa chất đã gây hệ lụy môi trường; đây là lúc hợp tác xã cần mạnh dạn chuyển đổi. Mô hình dùng phân bò nuôi trùn quế tại Mục Đồng vừa phục vụ nhu cầu nội bộ, vừa cung cấp vật tư cho các nhà sản xuất địa phương, hỗ trợ họ chuyển hướng hữu cơ – bền vững.Điều phối viên quốc gia của ICRAF tại Việt Nam Nguyễn Quang Tân chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các dự án kỹ thuật ở châu Á. Cuộc điều tra cần thiết về các dự án nông thônPGS.TS Đào Thế Anh ghi nhận nỗ lực của NIAPP cùng sự hỗ trợ của UNDP, coi báo cáo về 275 chương trình/dự án nông nghiệp sinh thái là bức tranh tổng quan giúp nhận diện lỗ hổng hệ thống và đưa ra khuyến nghị phù hợp. Ông nhấn mạnh nông nghiệp sinh thái mang tính liên ngành, đã được lồng ghép trong Quyết định 300/QĐ-TTg, vì vậy các nghiên cứu tiếp theo cần tích hợp Kế hoạch hành động quốc gia như một cơ sở pháp lý để địa phương cụ thể hóa kế hoạch hành động. Ở góc độ kinh tế hộ, Nguyễn Thức Thi lưu ý quá trình chuyển đổi có thể khiến năng suất và giá trị ngắn hạn giảm, nên phải tính kỹ bài toán kinh tế để bảo đảm bền vững. Nguyễn Mạnh Hiệp (IUCN) chỉ ra khác biệt vùng miền: ĐBSCL thiên về “thuận thiên”, sinh kế và thích ứng khí hậu, trong khi các tỉnh phía Bắc chú trọng an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng. Từ các kết quả bước đầu, nhóm nghiên cứu khẳng định phối hợp đa ngành là chìa khóa thúc đẩy cơ chế tài chính xanh, góp phần tăng tốc chuyển đổi hệ thống lương thực – thực phẩm.Theo Quỳnh Chi-nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

30 Sep, 2025 450

BAO BÌ SẦU RIÊNG VÀ CÂU CHUYỆN PHÍA SAU

Câu chuyện của một chiếc bao bì sầu riêng: từ tem dán đến thương hiệu quốc giaMột chiếc bao bì sầu riêng có thể kể nhiều hơn câu chuyện của một món hàng. Trên lớp vỏ ấy là những “dấu hộ chiếu” của niềm tin: các chứng nhận từ tổ chức độc lập, các giải thưởng thương hiệu, thậm chí cả quốc kỳ như một lời cam kết về chất lượng và uy tín. Khi người mua cầm gói sản phẩm trên tay, họ không chỉ thấy hương vị của “vua trái cây”, mà còn thấy cả một tư duy quốc gia coi minh bạch và chuẩn hóa là nền tảng để nông sản đi xa.Đằng sau những biểu trưng ấy là một hệ sinh thái vận hành nhịp nhàng: nông dân trồng trọt theo chuẩn, doanh nghiệp chế biến – thương mại hóa, logistics bảo quản – vận chuyển, du lịch và truyền thông cùng khuếch đại giá trị. Tư duy đó không thể đo bằng một mùa vụ hay một nhiệm kỳ; nó đòi hỏi kế hoạch dài hơi, kỷ luật thực thi và sự đo lường bằng các chuẩn mực quốc tế thay vì lời tự xưng. Bao bì vì thế không còn là lớp giấy gói, mà trở thành bề mặt của niềm tin được kiểm định bởi bên thứ ba.Muốn đạt đến độ tin cậy ấy, các mắt xích phải cùng nhịp. Mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc phải thống nhất và không bị lợi dụng; quản lý nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp và hợp tác xã phải đồng hành thay vì mạnh ai nấy làm. Cần một “nhạc trưởng” để các phần không lạc nhịp, và một “tổng công trình sư” để ghép những mảnh rời rạc thành cấu trúc hoàn chỉnh, nơi mỗi quyết định ở đồng ruộng phản chiếu nhất quán trên quầy kệ siêu thị và trong trải nghiệm của du khách.Khi bao bì mang trên mình ngôn ngữ của chuẩn hóa, truy xuất và chứng nhận, nó bán không chỉ một sản phẩm mà còn bán niềm tin vào một quốc gia biết tổ chức chuỗi giá trị. Từ chiếc bao bì sầu riêng ấy, ta thấy cách một ngành hàng tự kể câu chuyện trưởng thành: đi từ hình ảnh đến bản chất, từ khẩu hiệu đến hệ thống, từ thương vụ ngắn hạn đến thương hiệu dài hạn. Và chính lúc đó, một gói hàng nhỏ bé có thể mở cửa cho cả một nền nông nghiệp bước ra thế giới.Theo Lê Minh Hoan-nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

23 Sep, 2025 454

MEKONG INSTITUTE (MI) KHAI GIẢNG KHÓA ĐÀO TẠO KHU VỰC VỀ NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH

Khon Kaen, Thái Lan — Viện Mekong (MI) đã khai giảng Chương trình Đào tạo Khu vực về Công nghệ và Thực hành Nông nghiệp Thông minh từ ngày 22 đến 27 tháng 9 năm 2025.DEMETER vinh dự được tham gia Chương trình Đào tạo Khu vực về Công nghệ và Thực hành Nông nghiệp Thông minh do Viện Mekong (MI) tổ chức tại Khon Kaen, Thái Lan từ ngày 22 đến 27/9/2025, với sự hỗ trợ của Quỹ Hợp tác Mekong – Hàn Quốc (MKCF). Đây là cơ hội quý báu để Demeter cùng các đại diện từ Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam trao đổi, học hỏi, và ứng dụng các giải pháp nông nghiệp thông minh, hướng tới hiện đại hóa ngành nông nghiệp và phát triển bền vững trong Tiểu vùng Mekong Mở Rộng.Trong khuôn khổ chương trình, đại diện từ các doanh nghiệp sẽ củng cố kiến thức và kỹ năng về canh tác chính xác, giám sát dựa trên hệ thống IoT, các thực hành nông nghiệp thích ứng với khí hậu và các mô hình hợp tác công – tư — tất cả đều được điều chỉnh phù hợp với những thách thức và cơ hội đặc thù của Tiểu vùng Mekong.Khoảnh khắc ghi dấu tại chương trình Mekong Connect: Regional Training Program về công nghệ và thực hành nông nghiệp thông minh.Chương trình được thiết kế như một khóa học có tính tương tác cao, bao gồm các buổi đào tạo do chuyên gia hướng dẫn, các phần thực hành trực tiếp, các chuyến tham quan thực địa tại các nông trại thông minh, và hoạt động lập kế hoạch hành động chung. Bằng cách kết hợp trao đổi kiến thức với trải nghiệm thực tế, sáng kiến này hướng đến việc thúc đẩy nhanh quá trình ứng dụng các công nghệ thông minh, hiện đại hóa hệ thống lương thực – thực phẩm, và tăng cường các mối quan hệ hợp tác liên ngành trong toàn Tiểu vùng Mekong Mở Rộng (GMS).Khóa đào tạo này là một phần của dự án rộng hơn mang tên Mekong CONNECT, với mục tiêu tăng cường khả năng thích ứng và hiện đại hóa nông nghiệp thông qua các trụ cột: Hợp tác (Collaboration), Mạng lưới (Networking), Trao quyền (Empowerment), Xây dựng năng lực (Capacity-building) và Công nghệ (Technology).Ngoài ra, chương trình còn trực tiếp đóng góp vào việc thúc đẩy Kế hoạch Hành động thực hiện Tuyên bố Mekong – Sông Hàn (2021–2025) bằng cách khuyến khích hợp tác khu vực và phát triển nông nghiệp bền vững.Thông qua chương trình, DEMETER đã thu nhận được những lợi ích thiết thực như:Công nghệ & kỹ năng: Tiếp cận canh tác thông minh, IoT, thích ứng khí hậu → nâng cao hiệu quả sản xuất nông sản tươi.Mạng lưới: Kết nối đối tác trong GMS (nhà nước, học thuật, tư nhân) → mở rộng hợp tác và chuỗi cung ứng.Chiến lược & tài trợ: Đồng bộ với Mekong CONNECT và kế hoạch Mekong–Sông Hàn → thuận lợi tiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ chính sách.Thương hiệu: Tăng uy tín khi tham gia chương trình khu vực do Mekong Institute tổ chức.Đại diện DEMETER (ngoài cùng bên trái) cùng đoàn công tác tham dự hội nghị tại Mekong Institute.Theo Mekonginstitute

Xem chi tiết..

22 Sep, 2025 298

CHUẨN HÓA DỮ LIỆU NÔNG HỘ CÀ PHÊ THEO EUDR

Hơn 600.000 nông hộ cà phê Việt Nam đối mặt thách thức lớn khi EU siết yêu cầu truy xuất và chống mất rừng từ cuối năm 2025.Cần bổ sung thông tin về thực trạng sản xuất của nông hộ trồng cà phê bao gồm thông tin về sử dụng đất nhằm thực hiện việc truy xuất để đáp ứng yêu cầu của EUDR khi quy định này có hiệu lực từ cuối năm 2025. Truy xuất nguồn gốc cà phê theo Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) là yêu cầu cốt lõi của quy định này. Tuy nhiên, hiện còn một số nông hộ thiếu dữ liệu đầu vào để thực hiện, như ghi chép doanh thu theo từng thửa đất và thông tin về các lần bán. Đồng thời, các hộ cũng cần thu thập và cung cấp bằng chứng pháp lý đối với diện tích canh tác.Hiện 95% sản lượng cà phê của Việt Nam được cung bởi các nông hộ.Theo ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia cấp cao của Forest Trends, nếu không có cơ chế hỗ trợ truy xuất ở cấp nông hộ, một bộ phận hộ đang trực tiếp sản xuất sẽ khó đáp ứng yêu cầu của EUDR và có thể đối mặt rủi ro khi tham gia thị trường EU trong tương lai. Nhận định này dựa trên khảo sát 95 nông hộ trồng cà phê hiện nay.Ông Tô Xuân Phúc: 'Nông dân không thể làm truy xuất như doanh nghiệp'Truy xuất vẫn là mắt xích yếu nhấtKhảo sát đầu 2025 với 95 hộ ở 6 tỉnh cà phê cho thấy: gần 60% chưa ghi chép thu hái, hơn 50% không lưu thời điểm bán. Trong khi EUDR yêu cầu truy xuất tới từng lô đất kèm bằng chứng pháp lý. Ông Tô Xuân Phúc (Forest Trends) nhấn mạnh: thiếu thông tin truy xuất từ đầu nông hộ thì doanh nghiệp thu mua cũng không thể truy ngược để chứng minh nguồn gốc.Bức tranh hiện trạngBình quân mỗi hộ 1,9 ha, thường 2–3 lô; 34% có diện tích <1 ha ⇒ quản lý & truy xuất phức tạp.53,8% không ghi chép khi thu hái; 86% có ghi chép nhưng gộp chung các lô; chỉ 10% tách luồng cung (chủ yếu hộ tham gia mô hình bền vững có DN liên kết).Khoảng 40% hộ chưa có sổ đỏ (nhiều là hộ đồng bào DTTS). Tỷ lệ có sổ: Kinh 82% vs đồng bào 55%. Khoảng cách lô tới rừng: 4,6 km (đồng bào) vs ~10 km (Kinh) ⇒ rủi ro EUDR cao hơn.Ở Sơn La: bình quân >4 lô/hộ, hầu như không ghi chép riêng theo lô.Thị trường EU chiếm khoảng 40% lượng cà phê xuất khẩu của Việt NamVai trò của doanh nghiệpKhảo sát cho thấy 38% hộ đang liên kết với DN thu mua; nhóm này đáp ứng EUDR tốt hơn nhờ được tập huấn và hướng dẫn lưu trữ hồ sơ truy xuất. Cần mở rộng liên kết theo chuỗi giá trị (từ cung ứng vật tư đến thu mua có truy xuất). Tuy vậy, gần 60% hộ chưa liên kết, khiến việc truy xuất gặp khó. Trong 95 hộ, 56% từng nghe về EUDR nhưng ~80% chưa hiểu yêu cầu cụ thể; đại lý thu mua và truyền hình là kênh thông tin chính—nên tận dụng để phổ biến, tập huấn và nâng tỷ lệ tuân thủ.Ngành cà phê đang triển khai nhiều sáng kiến truy xuất; tiêu biểu là IDH thí điểm mô hình truy xuất từ đại lý xuống tận nông hộ, dự kiến nhân rộng từ 10/2025. Theo chuyên gia Tô Xuân Phúc, nông hộ không thể tự đáp ứng EUDR nếu thiếu hỗ trợ của Chính phủ và doanh nghiệp trong chuỗi cung. Với mốc cuối 2025 cận kề, cần khẩn trương: nâng năng lực nông hộ, xác nhận tính pháp lý lô đất, thu thập tọa độ địa lý, và hoàn thiện bản đồ rừng năm 2020. Đây là các bước then chốt để đáp ứng EUDR và duy trì thị trường EU.Nhóm nông hộ nhỏ lẻ đang cần những hướng dẫn cụ thể, thích ứng với EUDR.Theo Bảo Thắng - nongnghiepmoitruong.vn

Xem chi tiết..

11 Sep, 2025 388

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐÓN TRUNG TÂM UAV – ROBOT NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI BẬC NHẤT

ĐBSCL sắp có Trung tâm UAV – Robot nông nghiệp và Trường đào tạo phi công UAV tại Đại học Cần Thơ, nhằm ứng dụng công nghệ cao, phát triển tín chỉ carbon và đào tạo nhân lực, góp phần nâng cao giá trị nông sản và sức cạnh tranh quốc tế."Vùng đất vàng" Đồng bằng sông Cửu LongĐồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ lâu được coi là “vựa lúa,” “vựa trái cây” và “vựa thủy sản” của cả nước, đóng góp hơn 33% GDP nông nghiệp Việt Nam và 30% GDP vùng, giữ vai trò trụ cột đảm bảo an ninh lương thực. Tuy nhiên, khu vực đang đối mặt thách thức lớn từ biến đổi khí hậu, hạn mặn phức tạp và suy thoái đất, khiến mô hình sản xuất truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế. Trước thực trạng đó, phát triển nông nghiệp thông minh trở thành xu thế tất yếu và giải pháp chiến lược, giúp ĐBSCL phát huy tiềm năng, thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao giá trị nông sản và hội nhập quốc tế.PGS.TS Trần Trung Tính, Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ phát biểu tại hội thảo.Bước đi chiến lược, hợp tác toàn diệnChính phủ Việt Nam coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt cho chuyển đổi số quốc gia. Hưởng ứng định hướng này, CT Group và Đại học Cần Thơ đã ký kết hợp tác chiến lược trên nhiều lĩnh vực, trong đó nổi bật là dự án thành lập Trung tâm UAV – Robot Nông nghiệp và Trường đào tạo Phi công UAV. Dự án nhằm kết hợp tri thức hàn lâm và công nghệ hiện đại để: (1) nghiên cứu, ứng dụng UAV – Robot trong toàn bộ chuỗi sản xuất nông nghiệp; (2) đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước; (3) tạo cầu nối giữa trường, doanh nghiệp và chính quyền, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.Nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng giữa CT group và Đại học Cần Thơ đã được ký kết.Bên cạnh nông nghiệp công nghệ cao, CT Group và Đại học Cần Thơ còn hợp tác trong các lĩnh vực đột phá khác như bán dẫn và tín chỉ carbon. Hai bên sẽ phát triển thị trường tín chỉ carbon cho ĐBSCL, tập trung vào các mô hình nuôi tôm, canh tác lúa bền vững và chuyển đổi chiếu sáng công cộng, vừa mang lại lợi ích kinh tế vừa bảo vệ môi trường.Về nhân lực, Đại học Cần Thơ đã xây dựng lộ trình đào tạo từ đại học (Nông nghiệp công nghệ cao), thạc sĩ (Nông nghiệp thông minh) đến tiến sĩ (Nông nghiệp thông minh). Với những bước đi chiến lược này, hợp tác giữa CT Group và Đại học Cần Thơ hứa hẹn tạo cú hích đưa ĐBSCL trở thành vùng tiên phong về nông nghiệp thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu.Theo Cafef.vn

Xem chi tiết..

04 Sep, 2025 552

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - EU QUÝ I/2025: ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG MỚI TỪ THỊ TRƯỜNG VÀ CHÍNH SÁCH

Thương mại Việt Nam – EU quý I/2025 duy trì đà tăng trưởng tích cực, song song với những biến động kinh tế – thương mại của EU và các điều chỉnh chính sách nhập khẩu nông sản, môi trường....THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - EU TĂNG TRƯỞNG KHẢ QUAN TRONG QUÝ I/2025Về xuất khẩuQuý I/2025, EU tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam với kim ngạch 13,7 tỷ USD, tăng 12,2% và chiếm 13,3% tổng xuất khẩu. Đức bứt tốc đạt 2,44 tỷ USD, tăng 28,51%, với cà phê tăng 107% về kim ngạch, máy tính và linh kiện tăng 64,2%, dệt may tăng 21,1%, sắt thép tăng 56,3%, thủy sản tăng 26,4%, trong khi điện thoại và cao su giảm. Kinh tế Đức quý I/2025 tăng 0,2% sau khi giảm quý trước, cải thiện nhu cầu nhưng triển vọng còn rủi ro từ chính sách thuế Mỹ. Hà Lan vẫn là thị trường lớn nhất với 3,07 tỷ USD, tăng 4,4% nhưng chậm lại so với mức 26,9% năm 2024. Xuất khẩu sang Hà Lan giảm ở máy móc, phương tiện, điện thoại, trong khi giày dép, cà phê, hạt điều tăng; GDP Hà Lan chỉ tăng 0,1%, tiêu dùng hộ gia đình giảm 0,2%.Về mặt hàngQuý I/2025, xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU nhìn chung tăng mạnh, đặc biệt ở nhóm công nghệ và nông sản. Điện thoại đạt 2,18 tỷ USD, tăng 9,9%; máy tính 2,16 tỷ USD, tăng 32,7%; máy ảnh 93,4 triệu USD, tăng 103,9%. Nông sản hưởng lợi từ giá: cà phê 1,27 tỷ USD, giảm 6,5% về lượng nhưng tăng 63,6% kim ngạch; hạt điều 183,2 triệu USD, tăng 6,2% lượng và 37,6% trị giá; hạt tiêu 62,24 triệu USD, giảm 10,2% lượng nhưng tăng 37,7% trị giá. Thủy sản đạt 233,2 triệu USD, tăng 22,1%; rau quả 62,38 triệu USD, tăng 14,2%. Dệt may tăng 13,3%, giày dép tăng 12,9%, riêng tháng 3 tăng trên 25%. Ngược lại, sắt thép chỉ đạt 334,26 triệu USD, giảm 44,3%, nhưng Việt Nam vẫn đứng thứ 7 nguồn cung EU với 6,6% thị phần. Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 147,45 triệu USD, giảm 2,5%, song vẫn giữ vị trí nhà cung cấp lớn thứ 2 cho EU với 10,4%.Về nhập khẩuQuý I/2025, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ EU đạt 3,79 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ 2024. Tỷ trọng nhập khẩu từ Đức tăng từ 21,4% lên 23,1%, từ Italia tăng từ 10,6% lên 11,6%, trong khi từ Ailen giảm từ 27,3% xuống 21,4%. Nhập khẩu máy móc tăng 9,8%, nguyên phụ liệu dệt may, da giày tăng 15,9%, chất dẻo nguyên liệu tăng 12,3%. Nhập khẩu tiêu dùng cũng tăng mạnh: sữa và sản phẩm sữa tăng 48,2%, chế phẩm thực phẩm tăng 40,7%, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh tăng 12,3%. Ngược lại, nhập khẩu máy vi tính và linh kiện giảm 21,2%, hóa chất giảm 25,3%, phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 34,7%, cùng với vải các loại cũng giảm.THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ ITALIA CHƯA THỂ KỲ VỌNG BỨT PHÁVề xuất khẩuTrong quý I năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Italia đạt 1,3 tỷ USD, tăng 2,8% so với quý IV năm 2024 nhưng giảm 1,8% so với cùng kỳ, cho thấy xu hướng chậm lại sau mức tăng 10,5% năm 2024. Nhu cầu tiêu dùng Italia còn yếu khi bán lẻ tháng 2 chỉ tăng 0,1% so với tháng trước và giảm 1,5% so với cùng kỳ, dù GDP quý I tăng 0,3%, vượt mức 0,1% của quý trước. Trong 26 mặt hàng, có 15 mặt hàng tăng, nổi bật là cà phê tăng 20%, giày dép tăng 92,4%, dệt may tăng 21,3%, máy vi tính và linh kiện tăng 45,2%, rau quả tăng 284,6%. Ngược lại, điện thoại, sắt thép, máy móc, cao su, gỗ và sản phẩm gỗ giảm mạnh, kéo kim ngạch chung đi xuống. Cà phê là điểm sáng với mức tăng 121,8% so với quý IV năm 2024 và 20% so với cùng kỳ, giúp Việt Nam trở thành nguồn cung cà phê ngoài khối lớn nhất cho Italia với thị phần 12,98%. Giày dép cũng tăng trưởng vượt bậc, đưa Việt Nam lên vị trí nhà cung cấp lớn thứ hai, với thị phần tăng từ 10,19% lên 20,13%. Triển vọng tích cực khi thị trường giày dép cao cấp Italia dự báo tăng trưởng trên 6% giai đoạn 2024–2029, tạo dư địa mở rộng cho hàng Việt.Về nhập khẩuTrong quý I năm 2025, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Italia đạt 440,12 triệu USD, giảm 19,5% so với quý IV năm 2024 nhưng tăng 11,5% so với cùng kỳ. Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 103,91 triệu USD, chiếm 23,6%, giảm 18,8% so với quý IV và giảm 1,5% so với cùng kỳ. Dược phẩm đạt 68,85 triệu USD, giảm 18,2% so với quý IV nhưng tăng 12,8% so với cùng kỳ. Nguyên phụ liệu dệt may, da giày đạt 50,87 triệu USD, giảm 5,2% so với quý IV nhưng tăng 27% so với cùng kỳ. Kinh tế Italia quý I/2025 tăng 0,3%, vượt dự báo, kỳ vọng thúc đẩy thương mại song phương. Tuy nhiên, ngắn hạn thương mại chưa bứt phá khi chính phủ Italia hạ dự báo tăng trưởng 2025 xuống 0,6%, các năm 2026 và 2027 xuống 0,9% và 0,7%. Italia, nền kinh tế lớn thứ ba Eurozone và cửa ngõ hàng hải châu Âu, vẫn là thị trường quan trọng của Việt Nam nhờ EVFTA và tính bổ trợ trong cơ cấu kinh tế.QUÝ I/2025: XUẤT KHẨU SANG CỘNG HÒA SÉC tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao Về xuất khẩuQuý I năm 2025, xuất khẩu của Việt Nam sang Cộng hòa Séc đạt 495,2 triệu USD, tăng 62,3% so với cùng kỳ 2024. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 162,6%, chiếm 49,4% kim ngạch; gỗ tăng 40,1%; điện thoại, túi xách cũng tăng, trong khi dệt may, giày dép, sắt thép và phương tiện vận tải giảm. Thị phần hàng Việt tại Séc tăng từ 0,5% năm 2018 lên 4,4% năm 2024 và đạt 6,8% trong hai tháng đầu 2025, dù nhiều mặt hàng chủ lực còn chiếm tỷ trọng thấp. Séc là thị trường tiềm năng và cửa ngõ vào Đông Âu, song kinh tế chịu rủi ro từ thuế quan Hoa Kỳ. IMF hạ dự báo tăng trưởng của Séc năm 2025 xuống 1,6%, Bộ Tài chính Séc dự báo 2%, thấp hơn trước do tác động từ thuế bổ sung 20% với ô tô, thép và nhôm.Về nhập khẩuQuý I năm 2025, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Cộng hòa Séc đạt 53,4 triệu USD, giảm nhẹ 0,8% so với cùng kỳ 2024. Trong đó, nhiều nhóm hàng tăng mạnh: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 24,35 triệu USD, tăng 38,9%; máy vi tính và linh kiện đạt 9,6 triệu USD, tăng 27,2%; hóa chất đạt 1,2 triệu USD, tăng 42,5%.XUẤT KHẨU NÔNG SẢN SANG EU TĂNG MẠNH DO ĐƯỢC GIÁTrong quý I/2025, Việt Nam xuất khẩu sang EU 226.050 tấn cà phê, đạt 1,27 tỷ USD, sản lượng giảm 6,5% nhưng giá trị tăng 63,4% nhờ giá bình quân 5.634 USD/tấn, tăng 74,8%. Tỷ trọng cà phê trong xuất khẩu nông sản sang EU tăng từ 66,2% lên 74%. Riêng cà phê chế biến đạt 104,53 triệu USD, tăng 66,7%. Trong 2 tháng đầu 2025, EU nhập 427.370 tấn cà phê ngoại khối, giảm 15,1%. Việt Nam cung cấp 65.475 tấn, giảm 45,2%, thị phần giảm từ 23,7% xuống 15,3%. Brazil đạt 179.962 tấn, giảm 11,3% nhưng thị phần tăng từ 40,3% lên 42,1%. Ngược lại, Uganda, Colombia và Ethiopia tăng lần lượt 45,1%, 19,3% và 161,8%. Nguyên nhân giảm do EU tạm hoãn Luật chống phá rừng, nguồn cung Việt Nam giảm 5% còn 27 triệu bao, thu hoạch muộn và giá cà phê cao kỷ lục. Giá cà phê, trà, ca cao tại EU tăng 5,26% trong quý I/2025, riêng Phần Lan tăng 25,5%, Thụy Điển 13,2%. Đan Mạch vẫn tiêu thụ 8,7 kg/người/năm, trong khi Bulgaria giữ mức giá rẻ nhất 1,13 euro/cốc dù tăng 19,6%.Hơn 26.293 tấn hạt điều sang EU, trị giá 183,2 triệu USD, giảm 5,6% về lượng nhưng tăng 22,1% về trị giá nhờ giá cao. Thị trường chững lại do người mua chờ vụ mới và lượng hàng tồn kho nhiều, song nhu cầu tại Đức, Hà Lan vẫn tăng mạnh. Việt Nam đã khai thác tốt các thị trường cửa ngõ như Hà Lan, Đức và mở rộng sang Phần Lan, Ba Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Rumania, Bồ Đào Nha. EVFTA đưa thuế nhập khẩu hạt điều về 0% là lợi thế lớn giúp mở rộng thị phần. Theo Eurostat, 2 tháng đầu năm 2025, Việt Nam là nhà cung cấp hạt điều lớn nhất cho EU, đạt 21.751 tấn, chiếm 70,6% nhập khẩu ngoại khối, gấp 4 lần Bờ Biển Ngà (5.550 tấn). Về rau quả, quý I/2025, xuất khẩu sang EU đạt 152,93 triệu USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ 2024. Rau quả Việt Nam có lợi thế giá cạnh tranh nhờ EVFTA và sản phẩm bổ trợ, không trực tiếp cạnh tranh với hàng EU. Với ưu thế khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có tiềm năng trở thành nguồn cung ổn định các loại trái cây như chuối, xoài, thanh long, sầu riêng, nhãn, chanh leo cho thị trường EU.Trong quý I/2025, Việt Nam xuất khẩu 8.895 tấn hạt tiêu sang EU, trị giá 62,23 triệu USD, giảm 10% về lượng nhưng tăng 38,2% về trị giá nhờ giá cao. Xuất khẩu chững lại do tồn kho lớn từ năm trước, vụ thu hoạch chậm một tháng và yêu cầu khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, đặc biệt với tiêu trắng và tiêu hữu cơ. Trong khi đó, xuất khẩu cao su, gạo và chè sang EU đều giảm mạnh cả về lượng lẫn trị giá. Đối với cao su, nhập khẩu EU chững lại sau khi khối này tạm hoãn triển khai Luật chống phá rừng (EUDR) thêm một năm. Gạo cũng giảm mạnh khi nhu cầu từ các nhà nhập khẩu suy yếu từ năm 2024; dù giá gạo 3 tháng đầu năm 2025 đã giảm 10,2%, lực mua vẫn chưa phục hồi. Chè tiếp tục nằm trong xu hướng giảm, phản ánh sức mua hạn chế và áp lực cạnh tranh từ các nguồn cung khác.XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG EU tiếp tục tăng trưởng ở mức hai con số trong quý I/2025Về thị trường, xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU chủ yếu tập trung tại Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ, chiếm 88,73% tổng kim ngạch. So với quý IV/2024, xuất khẩu sang hầu hết các thị trường lớn giảm mạnh, như Hà Lan giảm 32,8%, Đức giảm 24,5%, Pháp giảm 31,9%, trong khi Tây Ban Nha tăng nhẹ 0,4% và Bồ Đào Nha tăng tới 161,7%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ 2024, xuất khẩu dệt may sang EU lại tăng ở 20/24 thị trường, nổi bật như Đức và Italia cùng tăng 21,3%, Tây Ban Nha tăng 14,4%, Pháp tăng 13,8%, Ba Lan tăng 39,4%, Đan Mạch tăng 90,1%.Về chủng loại xuất khẩu, Việt Nam xuất khẩu chủ yếu quần áo thun, quần dài, áo jacket, đồ lót, áo sơ mi, quần short và quần áo bảo hộ lao động sang EU, chiếm 76,16% tổng kim ngạch, tăng so với 72,56% của quý I/2024; trong đó, đồ lót tăng mạnh, chiếm 8,7% so với 5,4% cùng kỳ. So với quý I/2024, hầu hết các chủng loại chính đều tăng, nổi bật như áo thun tăng 20,6%, quần dài tăng 16,4%, đồ lót tăng 81,6%, quần áo bảo hộ tăng 33,4%, trong khi áo sơ mi giảm 9,1%, quần áo bơi giảm 30,7%, áo len và bít tất cùng giảm 25,8%, bộ quần áo đồng bộ giảm 15,5%.Trong 2 tháng đầu năm 2025, EU nhập khẩu hàng may mặc ngoại khối đạt 15,5 tỷ EUR (17,61 tỷ USD), tăng 23,2% so với cùng kỳ 2024. Trung Quốc, Bangladesh và Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 61,22% tổng kim ngạch, trong khi Việt Nam đứng thứ 6 với 4,71% thị phần, giảm nhẹ so với 4,76% năm trước. Dù xuất khẩu của Việt Nam tăng, tốc độ tăng trưởng vẫn thấp hơn các đối thủ như Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan và Campuchia.TÌNH HÌNH KINH TẾ, THƯƠNG MAI CỦA EU TRONG BỐI CẢNH CĂNG THẲNG THƯƠNG MẠI VỚI HOA KỲTrong quý I năm 2025, kinh tế Liên minh châu Âu tăng 0,3% và khu vực Eurozone tăng 0,4%, cao hơn dự báo nhờ doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng trước thời điểm Hoa Kỳ áp thuế. Tỷ lệ lạm phát tháng 3 năm 2025 đạt 2,5%, giảm so với 2,7% của tháng 2; tỷ lệ thất nghiệp giảm còn 5,7% so với mức 6,1% cùng kỳ năm 2024.Tháng 2 năm 2025, Liên minh châu Âu ghi nhận thặng dư thương mại 23,0 tỷ Euro, thay cho mức thâm hụt 5,6 tỷ Euro của tháng 1. Xuất khẩu hàng hóa đạt 225,4 tỷ Euro, tăng 7% và nhập khẩu đạt 202,4 tỷ Euro, tăng 7,2% so với tháng 2 năm 2024. Tính chung hai tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 434,3 tỷ Euro, tăng 5,8%; nhập khẩu đạt 416,9 tỷ Euro, tăng 9,1%, thặng dư giảm xuống 17,4 tỷ Euro so với mức 28,5 tỷ Euro cùng kỳ năm 2024. Ngành hóa chất tăng thặng dư, trong khi máy móc, phương tiện và hàng hóa sản xuất khác giảm.Năm 2024, thương mại hàng hóa giữa Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ đạt 867,34 tỷ Euro, tăng 1,9%. Trong đó, xuất khẩu đạt 532,3 tỷ Euro, tăng 5,7%; nhập khẩu đạt 335 tỷ Euro, giảm 3,5%; thặng dư tăng lên 197,27 tỷ Euro so với 156,65 tỷ Euro năm 2023. Tháng 1 năm 2025, trao đổi đạt 77,1 tỷ Euro, tăng 12,3%; trong đó xuất khẩu đạt 47,5 tỷ Euro, tăng 18% và nhập khẩu đạt 29,58 tỷ Euro, tăng 4,3%, thặng dư đạt 17,94 tỷ Euro.Tuy nhiên, các biện pháp thuế quan mới từ Hoa Kỳ có nguy cơ dẫn đến chiến tranh thương mại, làm Tổng sản phẩm quốc nội Liên minh châu Âu có thể giảm tới 2,5%. Dự báo lạm phát năm 2025 ở mức 2,3 – 2,4%, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 5,9 – 6,3%. Ngân hàng Trung ương châu Âu tiếp tục giảm lãi suất nhưng thận trọng, dự kiến duy trì mức trung lập để vừa kiểm soát lạm phát vừa hỗ trợ tăng trưởng.KHUYẾN NGHỊ DOANH NGHIỆP VỀ QUY ĐỊNH MỚI RÀ SOÁT QUẢN LÝ NHẬP KHẨU NÔNG SẢN THỰC PHẨM VÀO EUEU là một trong ba thị trường xuất khẩu NLTS lớn nhất của Việt Nam (sau Mỹ, Trung Quốc), giai đoạn 2017–2024 chiếm 8,9–10,3% kim ngạch xuất khẩu sang EU, đạt trung bình 4,17 tỷ USD/năm (tương đương 8,5–13% tổng NLTS cả nước). EVFTA tạo cơ hội mở rộng thị trường nhờ ưu đãi thuế, trong khi nông sản nhiệt đới Việt Nam ít cạnh tranh trực tiếp với EU nên dư địa lớn. Tuy nhiên, EU có yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc (GlobalGAP là tối thiểu). Nông sản Việt vẫn hạn chế: tồn dư thuốc BVTV, thiếu đồng nhất, thu hoạch – bảo quản kém. Từ 08/01/2025, Quy định 2024/3153 siết chặt nhập khẩu: sầu riêng bị kiểm tra 20% (tăng từ 10%), thanh long 30%, đậu bắp và ớt 50% kèm chứng nhận ATTP và kết quả kiểm nghiệm dư lượng BVTV. Doanh nghiệp Việt cần: (1) tuân thủ MRL và yêu cầu nhập khẩu; (2) bảo đảm chứng nhận kiểm dịch thực vật; (3) nâng cao kiểm soát chất lượng, chuẩn bị hồ sơ truy xuất; (4) đầu tư sản xuất bền vững, đạt chứng chỉ GlobalGAP, Rainforest Alliance, Fairtrade.EU NỚI LỎNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI LUẬT PHÁ RỪNGEU đang điều chỉnh quy định về hạn chế nạn phá rừng toàn cầu nhằm giảm gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp nhập khẩu, theo Bloomberg. Ủy ban châu Âu cho phép nộp báo cáo thẩm định trách nhiệm theo năm thay vì từng lô hàng, đồng thời giảm yêu cầu kiểm tra đối tác ở các khâu sâu trong chuỗi cung ứng. Quy định này, vốn gây nhiều tranh cãi trong khuôn khổ Thỏa thuận Xanh, nhắm tới các mặt hàng liên quan đến phá rừng như cà phê, ca cao, đậu nành, thịt bò. Nhiều ý kiến cho rằng luật này can thiệp quá mức ra phạm vi toàn cầu và gây áp lực thủ tục cho nông dân, nhà nhập khẩu. EU khẳng định vẫn giữ nguyên mục tiêu bảo vệ rừng, song các biện pháp mới sẽ giúp giảm 30% chi phí hành chính. Trước sức ép, khối đã lùi thời hạn thực thi thêm một năm, sang cuối năm 2025, đồng thời sẽ phân loại quốc gia theo mức độ rủi ro phá rừng trước tháng 6/2025.Theo Chuyên san THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - EU số Quý I/2025

Xem chi tiết..

13 Aug, 2025 555

TÀI CHÍNH KHÍ HẬU - YÊU CẦU CẤP THIẾT CỦA QUỐC GIA

Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, nơi những khát vọng phát triển đầy tham vọng giao thoa với các yêu cầu cấp bách về khí hậu. Khi đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và hướng tới trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức khí hậu. Thách thức kép này đòi hỏi một cách tiếp cận tài chính tích hợp, đặt các ưu tiên quốc gia vào trung tâm.CHIẾN LƯỢC THỐNG NHẤT ĐỂ HÀI HÒA MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ KHÍ HẬUTại Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về Tài chính cho Phát triển tổ chức ở Seville (Tây Ban Nha) vào tháng 7/2025, các quốc gia thành viên đã tái khẳng định cam kết thúc đẩy đầu tư cho phát triển bền vững, giải quyết khủng hoảng nợ gia tăng và cải cách cấu trúc tài chính quốc tế để đạt được sự công bằng hơn. Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các lĩnh vực này trong bài phát biểu toàn thể, kêu gọi huy động nguồn lực cho chuyển dịch xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cùng với cải cách tài chính đa phương và tăng cường hợp tác, chia sẻ tri thức trong các lĩnh vực then chốt. Những cam kết quốc tế này có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam, đất nước có nguồn tài chính phục vụ quá trình phát triển đã tăng trưởng ổn định, đạt 34,8% GDP vào năm 2020.Con đường tài chính khí hậu tích hợp là yêu cầu cấp thiết quốc gia của Việt NamViệt Nam đã có những bước chuyển dịch kinh tế ấn tượng trong những thập kỷ gần đây, thể hiện khả năng tái định hình chiến lược mạnh mẽ. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đầy tham vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 đồng thời tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu, cần một sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận tài chính phát triển.Việt Nam cần một kế hoạch toàn diện coi phát triển và hành động khí hậu không phải là đối nghịch mà là các ưu tiên bổ trợ lẫn nhau. Kế hoạch này phải tính đến tổng chi phí của hành động khí hậu và chuyển dịch xanh, cách huy động và phân bổ nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm bất bình đẳng, đạt được các ưu tiên phát triển quốc gia khác, đồng thời giải quyết các vấn đề về khí hậu.SỞ HỮU QUỐC GIA LÀ CHÌA KHÓA ĐỂ HUY ĐỘNG ĐẦU TƯ QUY MÔ LỚNCác cam kết khí hậu hiện tại như Đóng góp do quốc gia tự xác định (NDC), Kế hoạch Hành động Quốc gia, và cam kết Net-Zero là những nền tảng quan trọng. Tuy nhiên, những nỗ lực đáng khen ngợi này vẫn chủ yếu được thúc đẩy bởi các khung quy định và yêu cầu tuân thủ từ bên ngoài, hơn là bắt nguồn từ chương trình nghị sự phát triển quốc gia. Để khai mở toàn bộ tiềm năng, Việt Nam cần chuyển từ hành động khí hậu và tài chính do bên ngoài dẫn dắt sang chiến lược tích hợp, toàn diện, có sự sở hữu quốc gia – nơi các khoản đầu tư vào khí hậu được coi là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế chứ không chỉ là nghĩa vụ pháp lý.Mặc dù Việt Nam đã xây dựng NDC, nhưng vẫn chưa có chiến lược tài chính cụ thể đi kèm để khuyến khích đầu tư công và tư cho việc thực hiện NDC. NDC cũng chưa tích hợp các lĩnh vực xã hội và các mục tiêu phát triển quốc gia.Bộ Công Thương ước tính riêng trong lĩnh vực điện lực, Việt Nam cần huy động 142 tỷ USD cho năng lượng tái tạo và lưới điện từ nay đến năm 2030. Để hình dung quy mô này, hãy so sánh với tổng vốn đầu tư của Việt Nam năm 2021 là 117 tỷ USD. Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) trị giá 15,5 tỷ USD giữa Việt Nam và Nhóm G7 là đóng góp quan trọng, nhưng ngay cả trong kịch bản lạc quan nhất cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng nhu cầu tài chính.TÀI CHÍNH CÔNG GIỮ VAI TRÒ DẪN DẮT, NHƯNG VỐN TƯ NHÂN LÀ THEN CHỐTTài chính khí hậu tích hợp được xem như một bước ngoặt trong tư duy – đưa yếu tố khí hậu vào hệ thống ngân sách quốc gia, tăng cường phối hợp liên bộ, và phát triển thị trường vốn trong nước có khả năng dẫn vốn vào các khoản đầu tư khí hậu dài hạn.Việt Nam đã bắt đầu đặt những nền móng quan trọng. Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng phân loại xanh là bước đầu thiết lập hệ thống phân loại cho đầu tư bền vững; cùng với sự phát triển thị trường trái phiếu xanh và các sáng kiến đánh giá rủi ro khí hậu đã cho thấy năng lực thể chế ngày càng tăng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng này, cần nhân rộng và tích hợp sâu rộng hơn trong các cơ quan chính phủ và khu vực tài chính.Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần hành động cụ thể trên nhiều mặt trận. Thứ nhất, Việt Nam cần tích hợp yếu tố khí hậu một cách có hệ thống vào quy trình lập ngân sách hàng năm, chuyển từ cấp vốn dựa trên dự án sang chính sách tài khóa tích hợp khí hậu. Điều này đòi hỏi cần phải có một hệ thống ngân sách khí hậu vững chắc và đảm bảo sự thống nhất giữa các quyết định tài khóa với mục tiêu NDC.Thứ hai, phối hợp liên ngành hiệu quả là yếu tố thiết yếu để huy động và phân bổ tài chính khí hậu trên quy mô lớn. Cần có một cơ chế phối hợp với cấu trúc quản trị rõ ràng, phân vai, trách nhiệm và cơ chế giải trình. Tại Việt Nam, Bộ Tài chính, đặc biệt sau khi sáp nhập với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũ, có vị thế thuận lợi để dẫn dắt nền tảng phối hợp đa bên, điều phối các chủ thể công và tư dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thúc đẩy đầu tư khí hậu và tạo ra tác động phát triển lớn hơn. Phối hợp cần đi đôi với xây dựng năng lực thể chế trên tất cả các cấp chính quyền.Nhu cầu tài chính cho các hành động khí hậuThứ ba, huy động vốn tư nhân thông qua các công cụ giảm thiểu rủi ro sáng tạo và cơ cấu tài chính hợp tác là điều sống còn. Nguồn lực công không thể đáp ứng hết nhu cầu đầu tư khí hậu của Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống tài chính trong nước hiện đang bị hạn chế trong khả năng huy động vốn ở quy mô lớn một cách thận trọng và không gây lạm phát. Chính phủ cần tạo ra môi trường thuận lợi và khung pháp lý cho đầu tư tư nhân thông qua các cơ chế bảo lãnh, công cụ chia sẻ rủi ro và các cấu trúc tài chính kết hợp – nơi vốn đầu tư công đóng vai trò "mồi" để thu hút vốn tư nhân quy mô lớn.JETP là minh chứng điển hình cho cách tiếp cận tài chính kết hợp để huy động đầu tư từ khu vực tư nhân. Sáng kiến mang tính bước ngoặt này, với UNDP là cơ quan hỗ trợ Ban Thư ký JETP, cho thấy các cam kết chiến lược của khu vực công có thể khơi nguồn các dòng tài chính rộng hơn. Bằng cách kết hợp tài chính công ưu đãi với cơ chế thị trường, JETP tạo khung thu hút đầu tư tư nhân vào hạ tầng năng lượng tái tạo, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc chuyển dịch công bằng cho cộng đồng và người lao động bị ảnh hưởng.Thứ tư, Việt Nam nên mở rộng phân loại tài chính bền vững để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời phản ánh ưu tiên phát triển trong nước. Sự tương thích này sẽ thúc đẩy phát triển thị trường và gửi tín hiệu rõ ràng đến nhà đầu tư về định hướng chiến lược của đất nước, tạo điều kiện cho đầu tư xuyên biên giới trong khi vẫn giữ vững những lựa chọn ưu tiên cho quá trình phát triển.Cuối cùng, cần có khung pháp lý vững chắc hỗ trợ tài chính khí hậu cả từ khu vực công và tư, phù hợp với NDC và chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam. Điều này bao gồm việc gỡ bỏ rào cản pháp lý với các công cụ tài chính sáng tạo, đơn giản hóa quy trình phê duyệt dự án khí hậu, giảm chi phí giao dịch và thúc đẩy nhanh triển khai các giải pháp khí hậu. Ngoài ra, cần cải cách tiêu chí đủ điều kiện để tiếp cận nguồn tài chính ưu đãi, nhằm hỗ trợ Việt Nam đạt các mục tiêu phát triển.VIỆT NAM CÓ THỂ DẪN ĐẦUVới nhu cầu vốn ước tính khoảng 4 nghìn tỷ USD/năm trên toàn cầu để đạt các Mục tiêu Phát triển Bền vững, thành công của Việt Nam trong quá trình thực hiện tài chính khí hậu tích hợp do quốc gia dẫn dắt có thể mang lại kết quả phát triển vượt trội và sẽ là bài học quý báu cho các nước khác đang đối mặt với thách thức tương tự. Một khuôn khổ tài chính quốc gia tích hợp (INFF) về khí hậu có thể là nền tảng cho nỗ lực này. Khi Việt Nam bắt đầu hành trình chuyển đổi, con đường phía trước đã rõ: tài chính khí hậu tích hợp, đặt ưu tiên quốc gia làm trung tâm, là con đường hứa hẹn nhất để đạt cả mục tiêu phát triển và khí hậu. Câu hỏi không phải là liệu Việt Nam có đủ khả năng theo đuổi cách tiếp cận này không, mà là liệu Việt Nam có thể không theo đuổi nó? Thời điểm hành động là ngay bây giờ. Việt Nam có thể dẫn đầu và tạo ra “ba lợi ích” – cho con người, hành tinh và thịnh vượng.Theo Thời báo tài chính Việt Nam

Xem chi tiết..

12 Aug, 2025 391

BỐN ỨNG DỤNG GIÚP NGÀNH LÚA GẠO THOÁT KHỎI "VÒNG XOÁY" LẠM DỤNG PHÂN BÓN

Yêu cầu cấp thiết hiện tại của ngành lúa gạo là việc sử dụng phân bón cân đối, hiệu quả,giảm thiểu tác động môi trường và nâng cao chất lượng gạo.Ngày 8/8, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN-MT) phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) tổ chức Hội thảo kỹ thuật “Công cụ số hỗ trợ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón trong canh tác lúa ở Việt Nam”. Hội thảo thuộc khuôn khổ Dự án Sử dụng Phân bón đúng thuộc Chương trình Thách thức Phân bón Toàn cầu do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tài trợ, có sự tham gia của 45 chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.SỰ THAM GIA CỦA CHÍNH PHỦ GIÚP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ HIỆU QUẢNông nghiệp là ngành phát thải khí nhà kính lớn thứ hai sau năng lượng. Trong khi lượng phân bón trung bình trên thế giới hiện là 138 kg/ha, thì tại Việt Nam con số này đã lên tới 430 kg/ha (FAO, năm 2022). Theo đó, ông Nghiêm Quang Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - nhấn mạnh, sử dụng phân bón cân đối, hiệu quả là yêu cầu bức thiết không chỉ để giảm chi phí đầu vào mà còn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện dinh dưỡng đất và đáp ứng yêu cầu chất lượng gạo xuất khẩu. Bên cạnh việc lựa chọn loại phân bón chất lượng cao, ông cho rằng việc áp dụng công nghệ số sẽ giúp nông dân nhanh chóng tiếp cận kiến thức mới, nâng cao kỹ năng thực hành, đồng thời nắm bắt xu hướng sản xuất hiện đại trong bối cảnh nguồn nhân lực và quỹ đất nông nghiệp đang chịu áp lực. Giải bài toán này không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm canh tác truyền thống, mà cần sự hỗ trợ của khoa học công nghệ. Theo TS. Clement Gehlhar - đại diện Cục Nông nghiệp đối ngoại (USDA), cán bộ quản lý Thách thức Phân bón Toàn cầu, đã chia sẻ về quá trình thực hiện dự án tại 4 quốc gia. Bà khẳng định, so với Brazil, Colombia và Pakistan tham gia. Trong đó, Việt Nam tạo ra điểm khác biệt khi dự án nhận được sự phối hợp chặt chẽ từ Chính phủ và cơ quan quản lý, giúp công nghệ được ứng dụng hiệu quả và rộng rãi hơn.Trong khuôn khổ dự án ở Việt Nam, bốn công cụ số được giới thiệu nhằm tối ưu hóa sử dụng phân bón và quản lý đất bền vững. Trước hết là Bản đồ dinh dưỡng đất, xây dựng từ hơn 15.000 mẫu đất, 2TB dữ liệu ảnh viễn thám và mô hình học máy, cho phép xác định đặc tính, độ phì và tình trạng dinh dưỡng của từng khu vực, giúp nông dân và cán bộ khuyến nông điều chỉnh lượng và loại phân bón phù hợp. Công cụ có thể truy cập tại gis.luagao.org. Công cụ EasyFarm - kết nối nông dân với các tác nhân trong chuỗi giá trị lúa gạo, từ đại lý vật tư đến thương lái, cho phép đặt dịch vụTiếp đó là EasyFarm – nền tảng kết nối nông dân với các tác nhân trong chuỗi giá trị lúa gạo, từ đại lý vật tư, nhà cung cấp dịch vụ, thương lái đến thị trường tiêu thụ. EasyFarm cho phép đặt dịch vụ, bán sản phẩm theo thời điểm thu hoạch, tích hợp quản lý sau thu hoạch, dự báo viễn thám và khuyến nghị nông học thông minh. Công cụ thứ ba là Bón phân đúng (Rice Crop Manager – RCM), đưa ra khuyến nghị bón phân theo vùng chuyên biệt (SSNM) cho từng thửa ruộng. Thử nghiệm tại ĐBSCL và ĐBSH cho thấy có thể giảm lượng phân P, K mà vẫn giữ năng suất, qua đó tăng thu nhập nhờ tiết kiệm chi phí. Phiên bản Việt Nam hiện đang được thử nghiệm tại 6 tỉnh. Cuối cùng là Ứng dụng khuyến nông “Lúa Việt”, cung cấp kiến thức kỹ thuật, video hướng dẫn, thông tin canh tác theo thời gian thực, tích hợp các ứng dụng số như Bón phân đúng, Bản đồ dinh dưỡng đất, EasyFarm và trợ lý ảo khai thác dữ liệu từ IRRI, Bộ Nông nghiệp và các viện nghiên cứu. CHÌA KHÓA LÀ PHỐI HỢP NHIỀU BÊN VÀ ĐẶT LỢI ÍCH NÔNG DÂN LÊN HÀNG ĐẦUTheo TS. Jongsoo Shin, đại diện IRRI khu vực châu Á, bản đồ dinh dưỡng đất chính là “chìa khóa” của dự án, bởi mỗi vùng đất mang đặc điểm riêng, đòi hỏi khuyến nghị bón phân phải được “cắt bớt cái gì và thêm cái gì” để cải thiện độ phì nhiêu cho đất.Từ góc độ triển khai, TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ và môi trường cho rằng yếu tố lợi nhuận là điều kiện tiên quyết để thuyết phục nông dân thay đổi thói quen. Bà đề xuất cách tiếp cận theo hai giai đoạn: trước hết xác định các vùng canh tác có điều kiện đất đai tương đối đồng nhất (zone specific), sau đó tiến tới áp dụng bón phân theo từng thửa ruộng (site specific), mô hình phù hợp với các nông hộ lớn. TS. Jongsoo Shin, đại diện IRRI khu vực châu ÁTrong khi đó, PGS. TS Nguyễn Văn Bộ - Nguyên Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Khoa học kỹ thuật Phân bón Bình Điền - đánh giá, những kết quả bước đầu của dự án là mới mẻ và nhiều tiềm năng, đồng thời phù hợp với định hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nông nghiệp mà Nghị quyết 57-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương đề ra. Ông Bộ cho rằng, để giải pháp phát huy bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện phương thức phân phối công cụ, xây dựng kế hoạch nhân rộng, đồng thời tháo gỡ các rào cản về đất đai, tài chính, pháp lý và duy trì sự phối hợp giữa nhà khoa học, nông dân và doanh nghiệp. Còn theo TS Phùng Hà - Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái đất và áp lực an ninh lương thực, sử dụng phân bón cân đối, hiệu quả, giảm thiểu tác động môi trường và nâng cao chất lượng gạo đã trở thành yêu cầu cấp thiết.

Xem chi tiết..

12 Aug, 2025 445

CHÍNH SÁCH MIỄN VÀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CHO NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG

Kể từ ngày 01/10/2025, nhiều khoản thu nhập và các ngành, nghề liên quan đến nông nghiệp và môi trường được miễn và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.MIỄN THUẾ CHO 4 KHOẢN THU TỪ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNGTheo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, có hiệu lực từ 01/10/2025, 4 khoản thu nhập lĩnh vực nông nghiệp và môi trường được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, gồm:Thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản; thu nhập của doanh nghiệp từ sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản (kể cả trường hợp mua sản phẩm nông sản, thủy sản về chế biến) ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã từ sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản (kể cả trường hợp mua sản phẩm nông sản, thủy sản về chế biến), sản xuất muối.Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải, chuyển nhượng tín chỉ các-bon lần đầu sau khi phát hành của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ giảm phát thải, tín chỉ các-bon; thu nhập từ tiền lãi trái phiếu xanh; thu nhập từ chuyển nhượng trái phiếu xanh lần đầu sau khi phát hành.NHỮNG NGÀNH, NGHỀ ĐƯỢC ƯU ĐÃI THUẾCũng theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, các ngành, nghề liên quan đến nông nghiệp và môi trường được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, gồm:Sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; bảo vệ môi trường; sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất quốc phòng, an ninh và sản xuất sản phẩm động viên công nghiệp theo quy định của pháp luật về công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; sản xuất sản phẩm công nghiệp hóa chất trọng điểm và sản phẩm cơ khí trọng điểm theo quy định của pháp luật.Sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệpTrồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông sản, thủy sản và thực phẩm; sản xuất, khai thác và tinh chế muối (trừ sản xuất muối đã được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp). Nuôi trồng lâm sản; sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản; sản xuất thép cao cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; sản xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản. Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp. Xã hội hóa trong các lĩnh vực môi trường theo Danh mục loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn do Thủ tướng Chính phủ quy định.

Xem chi tiết..

27 Jun, 2025 625

GIA HẠN MIỄN THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP, KÉO DÀI ĐẾN HẾT NĂM 2030

Quốc hội thông qua Nghị quyết miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, kéo dài thời hạn miễn thuế thêm 5 năm, áp dụng đến hết năm 2030.Chiều ngày 26/6/2025 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV, với hơn 92.8% đại biểu Quốc hội tán thành, Nghị quyết về việc kéo dài thời gian miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đã chính thức được thông qua.Thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được quy định tại Nghị quyết 55 năm 2010 của Quốc hội (về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp) đã được sửa đổi, bổ sung một số điều (Nghị quyết 28 năm 2016 và Nghị quyết 107 năm 2020) đến hết ngày 31/12/2030.Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026 quy định: hộ gia đình, cá nhân và tổ chức trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp sẽ tiếp tục được miễn thuế sử dụng đất. Quy định này nhằm đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời tăng năng lực cạnh tranh cho nông nghiệp Việt Nam.Tuy nhiên, trong trường hợp đất được Nhà nước giao nhưng không trực tiếp sử dụng mà cho thuê lại để sản xuất nông nghiệp, tổ chức, cá nhân cho thuê vẫn phải nộp 100% thuế đất nông nghiệp trong thời gian chưa bị thu hồi đất. Báo cáo của Chính phủ cho biết, giai đoạn 2001-2010, số tiền thuế được miễn, giảm trung bình mỗi năm là 3.268 tỷ đồng. Con số này tăng lên khoảng 7.500 tỷ đồng/năm trong ba năm gần đây. Việc tiếp tục miễn thuế được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập trung đất đai, phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại.Ông Phan Văn Mãi - Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hộiBáo cáo giải trình, tiếp thu trước khi Quốc hội bấm nút thông qua nghị quyết, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết một số ý kiến đề nghị kéo dài thời hạn miễn thuế hơn so với dự thảo nghị quyết, có thể kéo dài đến hết năm 2035. Ông Mãi cho rằng Chính phủ cần đánh giá, phân tích việc sử dụng đất đai, đặc biệt đất nông nghiệp, để xây dựng chính sách dài hạn phù hợp với bối cảnh kinh tế biến động và thiếu định hướng phát triển sau năm 2030. Do đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin Quốc hội cho giữ như quy định tại dự thảo nghị quyết.Trước đó một số ý kiến đề nghị không miễn thuế đối với trường hợp để đất bỏ hoang, không sản xuất, sử dụng không đúng mục đích. Ý kiến khác đề nghị quy định nguyên tắc và điều kiện, tiêu chí cụ thể để được miễn thuế, đồng thời có chế tài xử lý các trường hợp lợi dụng chính sách để sử dụng đất sai mục đích hoặc tích tụ đất đai và để đất hoang hóa. Về nội dung này, ông Mãi nhìn nhận thực tế tình trạng sử dụng đất sai mục đích, đất hoang hóa, gây lãng phí nguồn lực vẫn diễn ra khá phổ biến.Thời gian qua một số nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã đề ra các chủ trương, yêu cầu hoàn thiện chính sách thuế sử dụng đất, trong đó có chính sách thuế đối với đất nông nghiệp để khắc phục tình trạng đất bỏ hoang hóa, sử dụng sai mục đích. "Chính sách miễn thuế đất nông nghiệp cần vừa hỗ trợ nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vừa khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Cần có tiêu chí phân loại đối tượng được miễn thuế để hỗ trợ đúng người, phát huy hiệu quả sử dụng đất", ông Mãi nói. Tuy nhiên theo ông Mãi, việc quy định cụ thể các tiêu chí để xác định đúng đối tượng được miễn thuế, không miễn thuế đối với đất bỏ hoang, sử dụng không đúng mục đích cần có thời gian nghiên cứu, chuẩn bị một cách phù hợp. Dự án nghị quyết về việc tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp của Chính phủ trình Quốc hội vào thời điểm này chưa giải quyết được các vấn đề nêu trên. Luật Đất đai 2013 cũng đã quy định xử lý đất nông nghiệp bỏ hoang và thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai. Để tránh gián đoạn chính sách, Ủy ban Thường vụ đề nghị Quốc hội giữ nguyên dự thảo nghị quyết về miễn thuế. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ đánh giá toàn diện thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, chính sách miễn thuế đối với kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân để xây dựng giải pháp chính sách phù hợp.Chính phủ cần hướng dẫn đầy đủ Luật Đất đai, ngăn ngừa hoang hóa, lãng phí đất đai, xử lý lợi dụng chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý đất nói chung, đất nông nghiệp nói riêng.Quy định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ trước tới nay như thế nào? - Quy định miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp lần đầu tiên quy định tại nghị quyết 55 của Quốc hội năm 2010. Theo đó việc miễn, giảm thuế được thực hiện từ ngày 1-1-2011 đến hết ngày 31-12-2020. - Đến nghị quyết 28 năm 2016 (sửa đổi, bổ sung nghị quyết 55) đã bổ sung thêm đối tượng và quy định thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện từ ngày 1-1-2017 đến hết ngày 31-12-2020. - Đến nghị quyết 107 năm 2020 (sửa đổi, bổ sung nghị quyết 55) tiếp tục kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện từ ngày 11-11-2016 đến hết ngày 31-12-2025.

Xem chi tiết..